Bạn đã bao giờ thắc mắc tại sao chế độ ăn mặn luôn được nhắc kèm với bệnh Tăng huyết áp? Hãy cùng Ngày Đầu Tiên tìm hiểu về mối liên hệ đó tại bài viết sau nhé.

Tại sao ăn mặn lại Tăng huyết áp? Mối liên hệ ít người biết 3
Tại sao ăn mặn lại Tăng huyết áp?

>> Các dấu hiệu cảnh báo bạn đang ăn mặn

>> Hãy Vận Động Thể Lực Để Kiểm Soát Huyết Áp!

1. Tăng huyết áp là gì?

Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg.

Người bệnh có thể có những biểu hiện như mờ mắt, choáng váng, chóng mặt, đau đầu dữ dội. Đôi khi không có khó chịu hay khác thường nào, mà chỉ tình cờ phát hiện huyết áp tăng cao khi đo huyết áp.

Vậy nên đây được coi là một trong những căn bệnh giết người thầm lặng.

2. Tại sao ăn mặn gây nguy cơ Tăng huyết áp – Bệnh Tim mạch – Thận?

Tùy theo khẩu vị của từng người mà bữa ăn của chúng ta, dù ít hay nhiều điều có hương vị mặn của muối. Vị mặn làm cho bữa ăn trở nên đậm đà và ngon miệng hơn. Muối nói chung ở đây bao gồm: muối ăn, các loại mắm, hạt nêm, nước chấm…

Tuy nhiên, chế độ ăn thừa muối kéo dài gây ra nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng.

Muối thành phần gồm 40% Natri và 60% Clorua, là khoáng chất cần thiết trong cơ thể, giúp kiểm soát cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và chức năng khối cơ.

Tại sao ăn mặn lại Tăng huyết áp? Mối liên hệ ít người biết 2
Theo khuyến cáo, mỗi người chỉ nên tiêu thụ không quá 5g muối/ngày

Theo khuyến cáo, mỗi người chỉ nên tiêu thụ không quá 5g muối/ngày. Tuy nhiên, thực tế  người Việt đang tiêu thụ trung bình lượng muối lên tới 9,4g/ngày (5 gram muối tương đương 1 muỗng cafe muối = 2 muỗng cafe hạt nêm = 2,5 muỗng canh nước mắm = 3,5 muỗng canh nước tương).

3. Thói quen tiêu thụ muối của người Việt Nam

Ở nhiều quốc gia phát triển, có đến 75% lượng muối sử dụng hàng ngày từ thực phẩm chế biến, đồ ăn nhanh, đồ ăn từ nhà hàng. Còn ở Việt Nam, có đến 70% lượng muối sử dụng là từ đồ ăn nhà nấu, 30% còn lại là thức ăn nhanh và đồ ăn nhà hàng.

Như vậy, nguyên nhân tiêu thụ lượng muối lớn gấp đôi cho phép chủ yếu do người Việt có thói quen ăn mặn, chế biến thức ăn sử dụng nhiều vị mặn.

Mục tiêu của Việt Nam là đến 2025 giảm được 30% muối ăn bình quân/người, tức là còn 7g/người/ngày. Đến 2030 thì giảm tiếp về 5g/người/ngày là lý tưởng nhất đối với một người trưởng thành, không có bệnh lý tim mạch, bệnh thận hay đái tháo đường.

Tại sao ăn mặn lại Tăng huyết áp? Mối liên hệ ít người biết 1
Người Việt Nam có thói quen ăn mặn

Với mục đích tư vấn việc giảm ăn mặn cho người dân, Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe Trung ương Bộ Y tế năm 2013 đã đưa ra lời khuyên: Cho bớt muối – Chấm nhẹ tay – Giảm đồ ăn mặn.

Cụ thể là chúng ta nên giảm ½ lượng muối và gia vị khi nấu ăn, lựa chọn thức ăn và khi ăn.

4. Các biện pháp hạn chế muối trong thức ăn

  • Giảm dần gia vị khi nấu ăn: dùng gia vị khác như chua, cay hoặc các loại rau thơm phối hợp khi chế biến để làm tăng vị ngon của thực phẩm và giảm độ mặn;
  • Hạn chế ăn thực phẩm chế biến sẵn như giò, chả, bơ mặn, xúc xích, thịt nguội,… vì chúng đã sử dụng muối trong quá trình chế biến. Nếu khi nấu các thực phẩm này tiếp tục dùng muối thì sẽ làm tăng lượng muối nạp vào cơ thể;
  • Trên bàn ăn như nước mắm, tương cà chua, nước sốt pha sẵn,.. vì chúng đều chứa muối. Vì vậy, người dùng cần nếm trước để biết vị mặn hoặc người dùng chấm ít nước chấm;
  • Tăng lượng thức ăn tươi hàng ngày, ít qua chế biến sẵn. Người chế biến tự giác hạn chế lượng muối khi nấu ăn;
  • Đối với các công ty chế biến thức ăn nhanh, mì gói… cần công khai chính xác hàm lượng muối trên từng sản phẩm và chịu trách nhiệm trước sức khỏe của người dân;

Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục trên mọi phương tiện truyền thông để cộng đồng hiểu rõ và làm theo lời khuyên nhằm cố gắng hoàn thành chỉ tiêu đề ra.

Tại sao ăn mặn lại Tăng huyết áp? Mối liên hệ ít người biết
Người bệnh Tăng huyết áp cần hạn chế muối trong mọi bữa ăn

Tóm lại ý thức của từng cá nhân trong gia đình và mọi người trong xã hội phải tự giác giảm lượng muối trong khẩu phần hàng ngày của chúng ta vì “MỘT CỘNG ĐỒNG KHỎE MẠNH”.

Tài liệu tham khảo :
1. Cục y tế dự phòng – bộ y tế
2. Hội tim mạch học Việt Nam
3. HCDC
4. Bài giảng sinh lý học – ĐHYK TPHCM