Đột quỵ nặng có thể gây tử vong, trong khi một số trường hợp nhẹ có thể để lại các di chứng khác nhau và có thể phục hồi theo thời gian. Trong nhiều trường hợp, các di chứng sẽ phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở não.

Nếu nghi ngờ bản thân (hoặc người thân) bị đột quỵ, bạn hãy gọi xe cấp cứu ngay lập tức. Tình trạng này cần nhập viện được bác sĩ đánh giá tình trạng sức khỏe ngay.

Thông thường, bạn sẽ được chụp cắt lớp não để xác nhận chẩn đoán và gợi ý nguyên nhân đột quỵ do thiếu máu cục bộ hay đột quỵ xuất huyết. Điều này đóng vai trò quan trọng vì cách điều trị ban đầu của cả hai loại đột quỵ rất khác nhau.

>> Holter huyết áp là gì?

>> Nhồi máu cơ tim – Biến chứng của Tăng huyết áp

Đột quỵ có chữa được không? 3
Đột quỵ có chữa được không?

Phương pháp điều trị sau đột quỵ

Các phương pháp điều trị sau đột quỵ có thể được xem xét bao gồm:

• Thuốc chống kết tập tiểu cầu:

Thường được khuyến cáo sử dụng trong đột quỵ do thiếu máu cục bộ (do cục máu đông). Thuốc chống kết tập tiểu cầu làm giảm độ dính của tiểu cầu và giúp ngăn ngừa hình thành cục máu đông bên trong động mạch.

Đồng thời, còn giúp ngăn ngừa đột quỵ tiến triển hoặc tái phát.

• Kiểm soát huyết áp:

Huyết áp tăng là một yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ. Nếu bạn bị xuất huyết não, bác sĩ sẽ cân nhắc dùng thuốc để hạ huyết áp của bạn nhanh chóng để đưa mức huyết áp trên (tâm thu) xuống 130 – 140 mmHg.

Nếu bạn đã từng bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ, huyết áp của bạn nên được kiểm soát về lâu dài.

Đột quỵ có chữa được không? 2
Việc sử dụng thuốc có thể giúp kiểm soát huyết áp và cục máu đông

• Vận động sớm:

Bạn sẽ được khuyến khích ngồi và bước ra khỏi giường, đứng hoặc đi bộ sớm để giảm nguy cơ biến chứng như cục máu đông ở chân có thể di chuyển đến phổi, giúp giảm nguy cơ tàn phế về lâu dài.

Nếu bạn không thể nuốt, bạn sẽ được cung cấp thức ăn và chất lỏng qua một ống dẫn vào dạ dày.

• Hạn chế nguy cơ hình thành cục máu đông:

nếu bạn bị rung nhĩ, bạn sẽ có nguy cơ cao hình thành cục máu đông trong buồng tim và di chuyển lên não để gây đột quỵ.

Thuốc chống đông máu (như warfarin, dabigatran, apixaban hoặc rivaroxaban) có thể được chỉ định giúp ngăn ngừa hình thành cục máu đông.

• Loại bỏ mảng xơ vữa động mạch:

Nhằm giảm khả năng bị hẹp động mạch cảnh, từ đó giảm nguy cơ bị đột quỵ. Nếu tình trạng hẹp nghiêm trọng, bạn có thể được khuyên phẫu thuật để loại bỏ mảng xơ vữa.

Nếu bạn bị đột quỵ do xuất huyết và đang dùng thuốc chống đông, quá trình điều trị của bạn sẽ được bác sĩ thay đổi để phòng tránh nguy cơ xuất huyết nhiều hơn.

Đột quỵ có thể để lại nhiều di chứng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh ở nhiều mức độ khác nhau, tuy nhiên đột quỵ có thể phục hồi bởi các phương thức điều trị phối hợp.

Một cách tốt hơn để điều trị đột quỵ chính là hiểu rõ các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh này để lên kế hoạch phòng tránh và kiểm soát.

Phục hồi chức năng sau đột quỵ

Khoảng 2/3 số người (hơn 700.000 người) bị đột quỵ mỗi năm sống sót và thường cần hỗ trợ điều trị phục hồi chức năng.

Nhiều người bị tàn tật sau đột quỵ có thể hoạt động độc lập nhờ các phương pháp trị liệu và phục hồi chức năng.

Mục đích của phục hồi chức năng là tối đa hóa hoạt động và chất lượng cuộc sống sau đột quỵ. Các bệnh viện chăm sóc phục hồi bệnh nhân đột quỵ cần phối hợp chuyên gia khác nhau hỗ trợ quá trình phục hồi chức năng.

Những chuyên gia này bao gồm nhà vật lý trị liệu, nhà trị liệu ngôn ngữ, chuyên gia dinh dưỡng, nhà tâm lý học, điều dưỡng và bác sĩ.

Phục hồi chức năng sau đột quỵ tốt rất quan trọng và có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong quá trình hồi phục.

Đột quỵ có chữa được không? 1
Phục hồi chức năng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục sau đột quỵ

Ngay sau khi phục hồi, bạn nên được giúp đỡ để ngồi dậy trên giường, rời khỏi giường và di chuyển xung quanh nếu có thể. Điều này là để bắt đầu quá trình phục hồi chức năng càng sớm càng tốt.

Ngoài ra, điều này còn làm giảm nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu trong tĩnh mạch chân, thường xảy ra khi bạn không hoạt động trên giường trong thời gian dài.

  • Trị liệu bằng giọng nói

Nếu đột quỵ làm giảm khả năng sử dụng ngôn ngữ và nói hoặc nuốt của một người, thì cần có phục hồi chức năng với một nhà trị liệu ngôn ngữ.

Đối với những người bị tổn thương nghiêm trọng, phục hồi chức năng có thể cung cấp các phương pháp, kỹ năng. Có thể giúp thích nghi và thay thế một phần các tổn thương nghiêm trọng của người bệnh.

  • Vật lý trị liệu

Vật lý trị liệu được thiết kế để cải thiện sức mạnh, khả năng phối hợp nhịp nhàng và cân bằng của một người. Phục hồi chức năng này giúp những người sau khi bị đột quỵ, lấy lại khả năng đi lại và thực hiện các hoạt động như sử dụng cầu thang hoặc ra khỏi ghế.

Đồng thời, tập luyện sẽ lấy lại các kỹ năng vận động tốt như cài cúc áo sơ mi hoặc dùng dao nĩa hoặc viết thư. Đây là những hoạt động mà liệu pháp vận động được thiết kế để hỗ trợ.

  • Liệu pháp nói chuyện

Một số người gặp khó khăn trong việc đối phó với những khuyết tật mới của họ sau đột quỵ.

Mọi người thường có phản ứng cảm xúc sau đột quỵ, một nhà tâm lý học hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần khác có thể giúp mọi người thích nghi với những di chứng của họ.

Những chuyên gia sử dụng liệu pháp trò chuyện để giúp những người có các phản ứng như trầm cảm, sợ hãi, lo lắng, đau buồn và tức giận sau khi đột quỵ.

Phòng ngừa nguy cơ đột quỵ

Để cố gắng giảm nguy cơ đột quỵ, điều quan trọng là phải giảm các yếu tố nguy cơ của bạn. Các yếu tố nguy cơ khiến việc hình thành mảng xơ vữa trong mạch máu (động mạch) dễ dàng xảy ra hơn.

Mảng xơ vữa làm tăng nguy cơ gặp các vấn đề nghiêm trọng như cơn thoáng thiếu máu não, đột quỵ và đau tim.

Đột quỵ có chữa được không?
Phòng ngừa nguy cơ đột quỵ phụ thuộc vào lối sống và bệnh lý mắc kèm

Các yếu tố nguy cơ mà bạn có thể thay đổi được:

  • Hút thuốc lá: Nếu có thói quen hút thuốc, bạn nên cố gắng hết sức để cai thuốc lá. Ngừng hút thuốc có thể làm giảm đáng kể nguy cơ bị đột quỵ (và nhiều bệnh khác như đau tim và ung thư phổi).
  • Huyết áp cao: Huyết áp cao thường không gây ra triệu chứng nhưng có thể gây tổn thương cho mạch máu của bạn. Nếu bị huyết áp cao, việc điều trị huyết áp có thể có tác dụng lớn nhất trong việc giảm nguy cơ bị đột quỵ
  • Bệnh tiểu đường: Nếu bạn bị tiểu đường, việc điều trị để kiểm soát lượng đường trong máu là rất quan trọng.
  • Thừa cân, béo phì: Nếu thừa cân hoặc béo phì, bạn nên giảm cân. Điều này có thể đạt được bằng cách giảm tiêu thụ calo, ăn uống lành mạnh và tập thể dục nhiều hơn.
  • Tập thể dục: Thiếu hoạt động thể chất làm tăng nguy cơ phát triển mảng xơ vữa. Bạn nên cố gắng thực hiện một số hoạt động thể chất vừa phải vào hầu hết các ngày trong tuần ít nhất 30 phút.
  • Cholesterol cao: Mức cholesterol cao có thể được hạ xuống bằng thuốc, thường là statin. Điều trị giúp làm giảm nguy các bệnh lý xơ vữa mạch máu – chẳng hạn như đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu và nhồi máu cơ tim

Ngoài ra bạn nên hướng đến chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm các yếu tố:

  • Ít nhất 5 phần, hoặc lý tưởng nhất là 7 – 9 phần, của nhiều loại trái cây và rau quả mỗi ngày.
  • Bữa ăn thứ 3 nên là thực phẩm làm từ tinh bột. Ví dụ như ngũ cốc, bánh mì nguyên hạt, khoai tây, gạo, mì ống,… cộng với trái cây và rau.
  • Không ăn nhiều thức ăn béo như thịt mỡ, pho mát, sữa nguyên kem, đồ chiên, bơ… Sử dụng các loại bánh ít chất béo, không bão hòa đơn hoặc không bão hòa đa.
  • 2 – 3 phần cá mỗi tuần. Ít nhất một trong số những loại này phải có dầu (chẳng hạn như cá trích, cá thu, cá mòi, cá hồi hoặc cá ngừ tươi).
  • Nếu bạn ăn thịt, tốt nhất là ăn thịt nạc, hoặc thịt gia cầm.
  • Nếu bạn chiên, hãy chọn dầu thực vật như hướng dương, hạt cải hoặc ô liu.
  • Cố gắng không thêm muối vào thức ăn. Hạn chế thức ăn mặn.
  • Không uống nhiều hơn 14 đơn vị rượu mỗi tuần, không quá 2 đơn vị trong một ngày bất kỳ và có ít nhất hai ngày không rượu mỗi tuần. Một đơn vị bằng khoảng nửa lít bia loại thường, hoặc 2/3 ly rượu vang nhỏ.

Nguồn tham khảo:

Theo Hội tim Hòa Kỳ (AHA), Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ (ASA) và WebMD