Đột quỵ xảy ra khi quá trình đưa máu lên não bị đột ngột ngừng lại, gây ra các triệu chứng thần kinh. Đây là bệnh của hệ thần kinh phổ biến hiện nay, gia tăng theo lứa tuổi, nhất là từ 50 tuổi trở lên, gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau tim mạch và ung thư.

Yếu tố nguy cơ và cách phòng chống Đột quỵ

Đột quỵ cũng là nguyên nhân phổ biến gây tàn phế vĩnh viễn và để lại gánh nặng to lớn cho bản thân người bệnh, gia đình và xã hội. Ngày Đầu Tiên sẽ giới thiệu đến bạn những kiến thức liên quan và cách phòng đột quỵ hiệu quả dưới đây!

Dấu hiệu nhận biết đột quỵ

Những dấu hiệu nhận biết đột quỵ bao gồm:

  • Khuôn mặt: gương mặt có dấu hiệu mất cân đối khi cười, nhe răng hay nói chuyện, nếp mũi và một bên mặt xệ xuống.
  • Tay: tay yếu và có dấu hiệu liệt. Không thể giơ đều hai tay hoặc một bên tay không thể giơ lên được.
  • Lời nói:  nói lắp, nói không rõ lời, lời nói khó hiểu hoặc không nói được.
  • Thời gian: nếu xuất hiện 3 dấu hiệu trên cho thấy nguy cơ đột quỵ cao. Cần khẩn trương gọi xe cấp cứu và đưa đến bệnh viện trong thời gian sớm nhất.
Dấu hiệu nhận biết bệnh Đột quỵ

Yếu tố nguy cơ gây đột quỵ 

Các yếu tố được chia thành 2 dạng không thể thay đổi và có thể thay đổi.

Yếu tố không thể thay đổi

  • Độ tuổi: sau 55 tuổi, cứ mỗi 10 năm nguy cơ đột quỵ tăng cao gấp đôi.
  • Giới tính: nguy cơ nam nhiều hơn nữ, nhưng tử vong nữ nhiều hơn nam.
  • Chủng tộc: người da đen có nguy cơ cao gấp đôi người da trắng.
  • Tiền sử gia đình: Tiền sử đột quỵ hay thiếu máu não thoáng qua có từ 25 đến 40% nguy cơ tái phát.

Yếu tố có thể thay đổi

  • Tăng huyết áp (Cao huyết áp): có nguy cơ đột quỵ tăng gấp 4 – 6 lần.
  • Rung nhĩ: nguy cơ tăng gấp 6 lần thường gặp trên 65 tuổi.
  • Tăng cholesterol máu: trên 310 mg/dL.
  • Đái tháo đường (Tiểu đường): tăng nguy cơ từ 2 – 4 lần.
  • Thuốc lá: tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ. Phụ nữ hút thuốc lá, có tiền sử bệnh đau nửa đầu và dùng thuốc tránh thai nguy cơ tăng gấp 3 – 4 lần.
  • Uống rượu: tiêu thụ nhiều làm tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Béo phì: tăng nguy cơ tăng huyết áp, cholesterol máu và đái tháo đường (tiểu đường).
  • Trầm cảm: là tình trạng buồn phiền, lo lắng, cáu kỉnh, mệt mỏi, không còn hứng thú với điều bạn từng thích, không thể tập trung, mất ngủ, ăn không ngon… Đồng thời cũng là yếu tố làm tăng tỷ lệ đột quỵ lên tới 29%.
Trầm cảm là yếu cố nguy kiếm làm tăng 29% tỷ lệ đột quỵ

Cách phòng tránh đột quỵ

Để phòng tránh được đột quỵ, bạn cần phải kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được bao gồm:

• Điều trị bệnh tăng huyết áp: tỷ lệ tăng huyết áp (cao huyết áp) khoảng 70% ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não. Đây được xem là nguy cơ chính gây đột quỵ thiếu máu não. Việc kiểm soát tốt huyết áp rất quan trọng trong chiến lược phòng ngừa đột quỵ .

• Điều trị bệnh đái tháo đường: Là yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ thiếu máu não. Để giảm nguy cơ đột quỵ, bạn cần kiểm soát tốt đường huyết lúc đói và HbA1C < 7%.

• Kiểm soát rối loạn lipid máu:

Việc điều trị rối loạn lipid thông qua giảm LDL- Cholesterol và Triglycerid. Giúp đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa đột quỵ.

Chế độ ăn uống nhiều mỡ là một trong những nguyên nhân gây đột quỵ

Thay đổi lối sống: Những cá nhân có yếu tố nguy cơ đột quỵ cần được đánh giá nguy cơ mạch máu và điều chỉnh lối sống; bao gồm chế độ ăn, hoạt động thể lực giảm cân, hút thuốc lá và rượu.
Lưu ý chế độ ăn: ngoài thức ăn hàng ngày như ngũ cốc, cá,… Trong bữa ăn của gia đình nên bổ sung thêm khoai lang, nho khô, chuối, cà chua; để bổ sung chất dinh dưỡng giàu kali sẽ giúp giảm nguy cơ đột quỵ tới 20%.
Từ bỏ hút thuốc lá: yếu tố chính gây xơ vữa mạch máu, làm tăng nguy cơ đột quỵ.

• Thừa cân và béo phì: béo phì làm tăng nguy cơ tim mạch và đột quỵ. Bạn cần kiểm soát cân nặng qua hoạt động thể lực và chế độ ăn uống.
• Luôn giữ cho tinh thần thoải mái: bạn hãy giữ tâm trạng tốt nhất; hoặc đi đến bác sĩ để khám và tư vấn nếu tình trạng buồn phiền kéo dài.

Để phòng ngừa và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ đột quỵ, bạn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa người thầy thuốc và bệnh nhân. Từ đó sẽ làm giảm tỷ lệ đột quỵ, giảm gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội.