Tăng huyết áp (Cao huyết áp) là bệnh lý tim mạch ngày càng phổ biến và tiếp tục gia tăng trên toàn cầu. Đến năm 2015, báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố tỷ lệ mắc tăng huyết áp (cao huyết áp) trên toàn cầu ở người trưởng thành từ 30 đến 45% [1]. Số lượng người mắc tăng huyết áp trên toàn thế giới đã tăng từ 600 triệu người năm 1980, lên 1,13 tỷ người năm 2015 [2]. Đồng thời, gánh nặng sức khỏe bệnh tật do bệnh tăng huyết áp (bệnh cao huyết áp) gây ra vô cùng lớn.

Bệnh liên quan tim mạch – Nguyên nhân gây tử vong hàng đầu

Thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2009, ước tính trung bình cứ 3 người tử vong trên toàn cầu thì có 1 người tử vong do bệnh lý tim mạch (khoảng 17 triệu người trong năm 2009) [3]. Năm 2016, Tổ chức Y tế thế giới công bố báo cáo về tình trạng các bệnh không lây nhiễm trên thế giới, bệnh lý tim mạch tiếp tục là nguyên nhân số một gây tử vong trên toàn cầu, với 17,9 triệu ca tử vong, chiếm 31% tổng số ca tử vong toàn cầu [4]. Xếp sau đó là các nguyên nhân như ung thư (9 triệu ca tử vong, 16% tổng số ca); bệnh hô hấp mạn tính (3,8 triệu ca tử vong, 7% tổng số ca) và bệnh đái tháo đường (1,6 triệu ca tử vong, 3% tổng số ca) [4]. Tử vong do bệnh tim mạch chủ yếu bao gồm bệnh tim thiếu máu cục bộ, đột quỵ não và các biến chứng của tăng huyết áp (cao huyết áp). Tăng huyết áp (cao huyết áp) là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ não (bao gồm cả nhồi máu não và xuất huyết não). Ước tính 51% số người tử vong do đột quỵ não và 45% số người tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ có căn nguyên tăng huyết áp (cao huyết áp)  [3]. Tăng huyết áp (cao huyết áp)  nếu không được phát hiện và điều trị sẽ gây ra các biến chứng bao gồm suy tim, bệnh mạch máu ngoại biên, suy thận, xuất huyết võng mạc, suy giảm thị lực, đột quỵ não và mất trí nhớ.

tang-huyet-ap

Bệnh tim thiếu máu cục bộ là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên toàn cầu năm 2016, gây ra 9,4 triệu người tử vong, chiếm tỷ lệ 16,6% tổng số ca trong năm 2016 [4]. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 790 nghìn người bị nhồi máu cơ tim cấp, trong đó 580 nghìn người mới phát hiện và 210 nghìn người bị tái phát. Năm 2015, có 366 nghìn người Mỹ bị tử vong vì nhồi máu cơ tim. Ước tính trung bình cứ 40 giây lại có một người Mỹ bị nhồi máu cơ tim và mỗi phút trôi qua có hơn 1 người Mỹ bị tử vong vì các biến cố tim mạch [5] [6].

Đột quỵ não là nguyên nhân phổ biến thứ hai trong các bệnh lý tim mạch gây tử vong trên toàn cầu. Năm 2016, đột quỵ não (bao gồm cả nhồi máu não và xuất huyết não) gây ra 8,5 triệu ca tử vong, chiếm tỷ lệ 15,1% tổng số ca trong năm 2016 [4]. Tại Mỹ, mỗi năm có 795 nghìn người bị đột quỵ, trong đó tỷ lệ mắc mới là 610 nghìn ca. Đột quỵ não là nguyên nhân gây ra 140 nghìn người tử vong hàng năm tại Mỹ. Ước tính trung bình cứ 40 giây lại có một người Mỹ bị đột quỵ não và cứ 4 phút trôi qua lại có một người tử vong vì đột quỵ não [7].

Tại Việt Nam, thống kê của Hội Tim mạch học nước ta năm 2015 có 20,8 triệu người trưởng thành bị tăng huyết áp (cao huyết áp)  [8]. Năm 2012, thống kê của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam, đột quỵ não là nguyên nhân số một gây tử vong (chiếm tỷ lệ 21,7%), xếp thứ hai là bệnh tim thiếu máu cục bộ gây (chiếm tỷ lệ 7%) [9]. Hàng năm có khoảng 200 nghìn người Việt Nam bị đột quỵ não, khoảng 50% trong số đó tử vong, 90% số người sống sót sau đột quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh và vận động [10].

Các hệ quả kinh tế nặng nề

Bên cạnh gánh nặng về sức khỏe, tăng huyết áp (cao huyết áp)  còn gây ra tổn thất nặng nề cho nền kinh tế toàn cầu. Tại Mỹ, mỗi năm bệnh tim mạch gây tiêu tốn cho nền kinh tế nước này khoảng 200 tỷ đôla và đột quỵ não là khoảng 34 tỷ đôla [5], [6] [7]. Chi phí kinh tế của tăng huyết áp (cao huyết áp) bao gồm cả chi phí y tế trực tiếp và chi phí gián tiếp như mất năng suất lao động. Chi phí y tế trực tiếp là chi phí phát sinh cho các sản phẩm và dịch vụ y tế được sử dụng để phòng ngừa, phát hiện hoặc điều trị bệnh và các biến chứng của nó. Chi phí gián tiếp phát sinh do giảm năng suất do tỷ lệ mắc bệnh và tử vong sớm liên quan đến bệnh tật. Chi phí kinh tế của tăng huyết áp (bệnh cao huyết áp) là chi phí cao nhất trong số 10 tình trạng sức khỏe được nghiên cứu bao gồm các bệnh tim mạch, rối loạn tâm thần và viêm khớp [11].

Những người bị các biến chứng liên quan đến tăng huyết áp (bệnh cao huyết áp), như bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ não, có thể cần sự chăm sóc, hỗ trợ các hoạt động của cuộc sống hàng ngày. Điều này đặc biệt hay gặp với người lớn tuổi. Do đó, tính toán gánh nặng kinh tế của tăng huyết áp (cao huyết áp) cũng nên bao gồm các chi phí chăm sóc này.

tag-huyet-ap

Tăng huyết áp (cao huyết áp) là bệnh lý phổ biến tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Tuy nhiên, tỷ lệ được phát hiện bệnh và điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam còn thấp (chỉ khoảng 11% người Việt Nam tăng huyết áp (cao huyết áp) được điều trị và kiểm soát đạt được huyết áp mục tiêu) [12]. Do đó, tăng huyết áp gây ra gánh nặng bệnh tật rất lớn cho sức khỏe cộng đồng và nền kinh tế nước ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. NCD Risk Factor Collaboration. Worldwide trends in blood pressure from 1975 to 2015: a pooled analysis of 1479 population- based measurement studies with million participants. Lancet 2017;389: 37–55.
  2. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hypertension
  3. World Health Organization (2009), Global health risks: Mortality and burden of disease attributable to selected major risks. Geneva, World Health Organization.
  4. Global Health Estimates 2016: Deaths by Cause, Age, Sex, by Country and by Region, 2000–2016. Geneva: World Health Organization; 2018.
  5. https://www.cdc.gov/dhdsp/data_statistics/fact_sheets/fs_heart_disease.htm
  6. https://www.cdc.gov/heartdisease/heart_attack.htm
  7. https://www.cdc.gov/stroke/facts.htm
  8. Nguyễn Lân Việt, Đỗ Doãn Lợi, Huỳnh Văn Minh, et al (2016). Kết quả mới nhất điều tra tăng huyết áp toàn quốc năm 2015 – 2016. Hội nghị Tăng huyết áp Việt Nam lần thứ II.
  9. Vietnam: WHO Statistical profile 2015, World Health Organization and UN partners, 2015.
  10. https://www.fvhospital.com/news/stroke-detection-and-prevention/
  11. Goetzel RZ, Long SR, Ozminkowski RJ, et al. Health, absence, disability, and presenteeism cost estimates of certain physical and mental health conditions affecting U.S. employers. J Occup Environ Med. 2004; 46(4): 398–412.
  12. Son PT, Quang NN, Viet NL, Khai PG, Wall S, et al. Prevalence, awareness, treatment and control of hypertension in Vietnam-results from a national survey. J Hum Hypertens 2012; 26(4): 268–280.