“Tôi chẳng có bệnh gì cả, có mỗi cái huyết áp cao!”  – Nghe rất quen đúng không? Đây là câu trả lời mà các bác sĩ cố vấn cho Ngày Đầu Tiên thường xuyên gặp khi hỏi về tiền sử bệnh tật của bệnh nhân khi tới khám. Câu trả lời đó, cho thấy việc người dân hiện chưa cảnh giác với căn bệnh Tăng Huyết Áp (Cao Huyết Áp) và tất nhiên, hậu quả của nó thì nhiều người vẫn còn cảm thấy rất mơ hồ. 

Vậy Tăng Huyết Áp (Cao Huyết Áp) là gì? 

Hiện nay trên thế giới có 1 tỷ người mắc bệnh Tăng Huyết Áp ( bệnh cao huyết áp) và dự kiến sẽ tăng 1,5 tỷ vào năm 2025. Đây là bệnh có nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm với khoảng 10 triệu người năm 2015. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng một cách nhanh chóng. Theo Tổng điều tra toàn quốc ở Việt Nam năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 tuổi bị Tăng Huyết Áp, trong đó có 23,1% nam giới và 14,9% nữ giới. Như vậy bệnh Tăng Huyết Áp (bệnh cao huyết áp) không còn là căn bệnh chỉ của người cao tuổi.

Khi nói đến số đo huyết áp, ta nói đến huyết áp tâm thu – số ở trên gạch chéo và huyết áp tâm trương – số ở dưới gạch chéo. Huyết áp được tính bằng đơn vị mmHg. Chẩn đoán xác định người bị tăng huyết áp dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo đúng quy trình. 

Người bị xác định là bị tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg. Phần lớn nếu bệnh xảy ra ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (Tăng Huyết Áp nguyên phát), chỉ khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân gọi là tăng huyết áp thứ phát. 

Các nghiên cứu cho thấy, nếu huyết áp của cả bố và mẹ đều bình thường thì tỷ lệ mắc bệnh của con là 3%. Nếu bố, mẹ có một người bị bệnh tăng huyết áp (bệnh cao huyết áp) thì tỷ lệ mắc bệnh của con là 28%. Nếu cả bố lẫn mẹ đều mắc bệnh này thì tỷ lệ bị cao huyết áp của con là 45%. Tuy nhiên, đây không phải bệnh di truyền mà phụ thuộc nhiều vào thói quen sinh hoạt.

Vì sao đây là căn bệnh nguy hiểm?

Đa phần các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp (bệnh cao huyết áp) đều khá mờ nhạt. Trên thực tế, hầu hết các bệnh nhân tăng huyết áp (THA) đều không thể nhận thấy bất kỳ một dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ ràng nào, mặc dù bệnh đã tiến triển khá nghiêm trọng. Một số ít bệnh nhân bị tăng huyết áp (cao huyết áp) có thể biểu hiện một số triệu chứng thoáng qua như đau đầu, khó thở, hoặc hiếm hơn là chảy máu cam.

Nếu người bệnh không điều trị THA hoặc điều trị không đạt đích (≤140/90 mmHg), sẽ có nguy cơ bị các biến chứng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, bệnh mạch máu ngoại vi…Đây là những biến chứng nặng nề có thể gây tử vong hoặc khiến cho người bệnh giảm chất lượng cuộc sống, tăng gánh nặng đối với gia đình và xã hội.

Cách phòng ngừa và điều trị bệnh Tăng Huyết Áp (bệnh Cao Huyết Áp)

C:\Users\khuyen.tth\Downloads\New folder\THAWEB-T1-05.jpg

Đầu tiên cần thay đổi lối sống, bao gồm: 

  • Chế độ ăn cung cấp đủ năng lượng, các vitamin và khoáng chất, giàu kali, giàu chất xơ, giảm lượng acid béo bão hòa và tổng lượng chất béo; giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày); tăng cường rau xanh, hoa quả tươi; 
  • Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 (BMI = trọng lượng cơ thể (kg)/chiều cao (m2); duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ; 
  • Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) (1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh); 
  • Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
  • Tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày; 
  • Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý; tránh bị lạnh đột ngột.

Tiếp theo chúng ta cần quan tâm đến chỉ số huyết áp của mình. Tất cả người trưởng thành (≥ 18 tuổi) cần được đo huyết áp tại phòng khám và nhớ số đo huyết áp như số tuổi của mình

  • Nếu khi khám sức khỏe định kỳ và huyết áp đo được là tối ưu (< 120/80 mmHg) thì cần đo huyết áp về sau ít nhất mỗi 3 năm. 
  • Nếu huyết áp đo được trong ngưỡng bình thường (HA tâm thu = 120-129 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương 80-84 mmHg) cần đo huyết áp về sau ít nhất mỗi 2 năm. 
  • Ở người lớn tuổi (˃ 50 tuổi) cần sàng lọc huyết áp thường xuyên (6 tháng/lần) dù ở mức độ nào vì xu hướng huyết áp tăng dần theo tuổi.

Nếu được bác sĩ chẩn đoán mắc Tăng huyết áp (Cao Huyết Áp), người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ chỉ định dùng thuốc cũng như lời khuyên của bác sĩ, khám định kỳ ít nhất mỗi tháng một lần.

Trong trường hợp một người chưa được chẩn đoán tăng huyết áp mà thấy các triệu chứng như đau đầu dữ dội hoặc âm ỉ kéo dài, đau ngực, khó thở, chóng mặt, nôn hoặc buồn nôn, tự nhiên giảm hoặc mất vận động tay, chân thì nên đến tầm soát Tăng huyết áp ngay, vì những triệu chứng trên có thể là biểu hiện và biến chứng của bệnh.

Tóm lại, bệnh tăng huyết áp là một bệnh lý tim mạch hết sức nguy hiểm, là “kẻ giết người thầm lặng”. Mỗi người dân nên nhận thức đầy đủ về căn bệnh này để có thể được phòng bệnh cũng như điều trị đạt hiệu quả, giảm thiểu tối đa các biến chứng.

Tài liệu tham khảo:

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP (Ban hành kèm theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 08 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ TĂNG HUYẾT ÁP y tế)

KHUYẾN CÁO VỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP 2018 – Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam