Ngày nay, các bệnh lý chuyển hóa, huyết áp, mạch vành ngày càng gia tăng đến mức đáng báo động. Các dấu hiệu quan trọng của bệnh lý động mạch vành sẽ là những yếu tố mấu chốt giúp bạn nắm bắt để phát hiện bệnh sớm, từ đó điều trị kịp thời, tránh các biến chứng nặng nề về sau. Hãy cùng Ngày Đầu Tiên tìm hiểu về các dấu hiệu cảnh báo bệnh lý động mạch vành thông qua bài viết sau đây.

Các dấu hiệu cảnh báo trái tim bạn đang gặp vấn đề bệnh lý động mạch vành

1. Đau ngực

Nguyên nhân gây đau ngực rất đa dạng, có thể là những bệnh lý đe dọa tính mạng hoặc là những bệnh lành tính. Điều quan trọng là người bệnh nắm bắt được các cơn đau ngực của mình có do một trong số các bệnh lý nguy hiểm đến tính mạng gây ra hay không, nhất là bệnh lý động mạch vành.

Động mạch vành là mạch máu nuôi tim. Hội chứng động mạch vành cấp là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim diễn tiến đột ngột, nhanh, đòi hỏi phải điều trị sớm, tích cực. Hội chứng này bao gồm nhiều thể bệnh, trong đó có nhồi máu cơ tim cấp. [1]

Các nhóm nguyên nhân khác có thể gây nguy hiểm tính mạng có thể kể đến như là: thuyên tắc phổi, bóc tách động mạch chủ, chèn ép tim cấp, viêm cơ tim – màng ngoài tim, tràn khí màng phổi áp lực. Đặc điểm chung của các bệnh lý này là đau ngực xuất hiện đột ngột, mức độ nhiều, thời gian kéo dài, diễn tiến theo xu hướng ngày càng tăng, thường kèm theo khó thở, có trường hợp tụt huyết áp, hôn mê,… [3], [4]

Nguyên nhân gây ra đau thắt ngực rất đa dạng

1.1 Đau ngực trong hội chứng mạch vành cấp tính

Biểu hiện đau ngực của bệnh nhân trong hội chứng động mạch vành cấp là tức nặng sau xương ức, cảm giác như bị đè nặng, siết chặt ngực, mức độ nhiều, lan ra vai hoặc tay, cổ, xuất hiện đột ngột. Cơn đau kéo dài hơn 20 – 30 phút và vẫn tiếp diễn dù đã nghỉ ngơi, có thể kèm theo khó thở, nôn, vã mồ hôi.

Hội chứng này thường xuất hiện ở người bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, bệnh thận mạn… Những yếu tố này được gọi chung là yếu tố nguy cơ. Càng có nhiều yếu tố nguy cơ thì càng có khả năng là mắc phải hội chứng động mạch vành cấp tính và nếu mắc phải thì tình trạng tắc/ hẹp càng lan tỏa, nặng nề. [1], [2], [3], [4], [5]

Khi rơi vào tình trạng này, người bệnh cần nhanh chóng đến khám tại các cơ sở y tế để được chẩn đoán sớm và điều trị, cân nhắc chụp động mạch vành qua da để xác định vị trí tắc/ hẹp và tái thông mạch sớm.

1.2 Đau ngực trong bệnh lý động mạch vành mạn tính

Các cơ chế gây đau ngực trong bệnh động mạch vành mạn tính hiện tại rất đa dạng, thường có sự kết hợp nhiều cơ chế với nhau và làm biểu hiện bệnh của mỗi người mỗi khác. Điều quan trọng đầu tiên mà bác sĩ cần xác minh là bệnh nhân có tình trạng hẹp nặng lòng mạch vành hay co thắt mạch vành, bất thường đường đi hoặc xuất phát mạch vành, rối loạn vi mạch (mạch máu nhỏ < 500micro met) vành, kết hợp với rối loạn lo âu,… [1], [2], [4]

Về biểu hiện lâm sàng, đặc điểm đau thắt ngực của bệnh lý động mạch vành mạn tính cũng tương tự như đặc điểm đau thắt ngực của hội chứng mạch vành cấp tính. Các bệnh nhân sẽ được đánh giá về hoàn cảnh xuất hiện đau ngực (khi gắng sức, lo âu, đói bụng, đang nghỉ…), cường độ đau tăng dần hay giảm, thời gian kéo dài cơn đau, các dấu hiệu kèm theo cũng như các tình trạng có thể giúp giảm đau…[5].

Phân chia các mức độ Đau thắt ngực giúp bác sĩ dễ dàng chẩn đoán và chỉ định các xét nghiệm

Đối với đau thắt ngực mạn tính, các bác sĩ sẽ phân chia đau thắt ngực theo các mức độ gắng sức tương ứng của người bệnh. Sự phân chia này giúp bác sĩ chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng hoặc kỹ thuật chẩn đoán (trắc nghiệm gắng sức, chụp MSCT mạch vành, chụp động mạch vành qua da…) phù hợp. [4]

1.3 Đau ngực trong các bệnh lý không do tim

Một số nguyên nhân khác gây đau ngực có thể kể đến như trào ngược dạ dày thực quản, viêm loét dạ dày thực quản, viêm đau cơ thành ngực, viêm sụn sườn, herpes…

2. Các triệu chứng ngoài đau ngực

2.1 Khó thở

Là triệu chứng thường xuất hiện ở bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính. Biểu hiện này có thể là dấu hiệu duy nhất của bệnh động mạch vành ở một số đối tượng như bệnh nhân nữ, lớn tuổi, nhiều bệnh lý kèm theo như bệnh phổi, bệnh thận mạn, thiếu máu… [4] [5]

Khó thở có thể là triệu chứng duy nhất xuất hiện ở bệnh nhân mắc bệnh Động mạch vành

2.2 Các triệu chứng khác

Trên thực tế, vẫn có những trường hợp mắc bệnh động mạch vành nặng nhưng rất ít triệu chứng, đặc biệt là ở các đối tượng đái tháo đường, lớn tuổi, bệnh thận mạn nặng. Bệnh nhân có thể có những biểu hiện không đặc hiệu của bệnh động mạch vành như mệt, buồn nôn, nôn, lơ mơ, tiếp xúc chậm… [1], [3], [4]

Tóm lại, bệnh lý động mạch vành có biểu hiện phức tạp và đa dạng. Đau thắt ngực là biểu hiện chính của bệnh lý này. Khi tình trạng đau thắt ngực xuất hiện và kéo dài hơn 20 phút, người bệnh cần được đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất để được khám bệnh kịp thời.

Nguồn tham khảo:

  1. Collet JP, 2020 ESC Guidelines for the management of acute coronary syndromes in patients presenting without persistent ST-segment elevation, European Heart Journal (2020) 00, 1-79.
  2. Levine G.N (2011), Chest pain and angina, Cardiology Secrets, 3rd edition, p. 95-101.
  3. Sabatine M.S, Cannon C.P (2015), “Approach to the patient with Chest pain”, Chapter 50, Braunwald’s Heart disease, 10th edition, p.1057- 1067.
  4. Scirica B.M, Morrow D.A (2015), ST-elevation Myocardial infarction: pathology, pathophysiology, and clinical features, Chapter 51, Braunwald’s Heart disease, 10th edition, p. 1068-1094.
  5. Swap CJ, Nagurney JT (2005), Value and limitations of chest pain history in the evaluation of patients with suspected acute coronary syndrome, JAMA 23:294(20):2623-2629.