Những hậu quả khi bạn không tuân thủ điều trị bệnh mạch vành
1. Khái niệm về tuân thủ điều trị
Tuân thủ điều trị là sự tôn trọng và thực hiện một cách thật nghiêm túc toàn bộ các chỉ định của thầy thuốc về cả điều trị bằng thuốc, và các chế độ ăn uống, sinh hoạt, vận động thể lực cũng như các chỉ định cần thay đổi các thói quen xấu, bất lợi… Không tuân thủ điều trị là một trong những rào cản lớn nhất cho kết quả điều trị .
2. Nguyên nhân không tuân thủ điều trị
2.1. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ thuốc hay một biện pháp điều trị được áp dụng:
– Số lần uống thuốc quá nhiều (2-3 lần mỗi ngày), số lượng viên thuốc quá nhiều gây bất tiện cho, hoặc thuốc dùng đường tiêm mà bệnh nhân sợ tiêm thuốc, hay tiêm bị đau…
– Do tác dụng phụ của thuốc hay biện pháp điều trị gây ra – Do mùi vị của thuốc khó chịu hoặc hương vị hôi không chấp nhận được…
– Do giá thuốc hay biện pháp điều trị là quá đắt so với túi tiền của bệnh nhân hay gia đình bệnh nhân.
– Hiệu quả do thuốc hay biện pháp điều trị mang lại thì không phải luôn luôn được nhìn thấy ngay hay là mang lại những kết quả không như bệnh nhân mong đợi .
2.2. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ căn bệnh mắc phải:
– Các bệnh nhân thường sẽ tuân thủ điều trị tốt hơn khi bị mắc các bệnh lý gây ra các triệu chứng hay dấu hiệu nặng nề, rõ ràng hoặc khi bệnh nặng, cấp …5
– Bệnh nhân thường tuân thủ điều trị kém khi bị mắc các bệnh lý mạn tính chưa có biến chứng và thường có các triệu chứng nhẹ nhàng, thoáng qua, mơ hồ hay không rõ 5
2.3. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ bản thân từng bệnh nhân:
– Về độ tuổi: Bệnh nhân quá lớn tuổi thường bị lú lẩn, hay quên; trong khi đó bệnh nhân trẻ tuổi thì lại chủ quan, ỷ mạnh, vả lại thường không muốn uống thuốc. 4
– Các bệnh nhân bị tật nguyền, thiểu năng cũng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc tuân thủ điều trị.
– Do bệnh nhân không có niềm tin vào việc điều trị: Bệnh nhân có thái độ tiêu cực, thường hay bi quan không tin vào hiệu quả việc điều trị nên sẽ tuân thủ kém4…
– Trình độ học vấn của bệnh nhân: Người có trình độ học vấn cao lại không phải là người tuân thủ điều trị tốt.
2.4. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ bác sĩ:
– Khi bác sĩ giao tiếp tốt với bệnh nhân, chỉ rõ ích lợi của các biện pháp điều trị, nhắc lại nhiều lần và thật rõ ràng cho bệnh nhân, báo trước các tác dụng phụ có thể có cho bệnh nhân biết thì việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân sẽ tốt hơn nhiều. 5
– Bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị phức tạp (thuốc phải dùng nhiều lần, nhiều loại thuốc; biện pháp điều trị khó thực hiện hay không khả thi…)5
2.5. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân: 4
– Khi bệnh nhân tin tưởng vào bác sĩ.
– Khi có sự giúp đỡ của những người chung quanh bệnh nhân.
– Khi bác sĩ khích lệ bệnh nhân.
– Và các bác sĩ cũng có thể nhờ đến các phương tiện giúp đỡ khác như chuông báo giờ, hộp thuốc điện tử hay sự giúp đỡ và nhắc nhở lẫn nhau của các nhóm hay cặp bệnh nhân cùng mắc một bệnh (vd: hội đái tháo đường …)
2.6 Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ hệ thống chăm sóc y tế: 4
– Hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho bệnh nhân không?
– GBệnh nhân có thể dễ dàng mua thuốc vào các giờ giấc hay địa điểm thuận tiện hay không
– Bệnh nhân có tin tưởng vào hệ thống chăm sóc y tế đó không?…
2.7. Không tuân thủ điều trị có nguyên nhân từ các yếu tố khác: 4
– Sự lan tràn thuốc không rõ nguồn gốc cũng như các thuốc không đảm bảo chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến vấn đề tuân thủ điều trị.
– Không chấp nhận mình bị bệnh tật
3. Hậu quả khi không tuân thủ điều trị
3.1. Bệnh sẽ diễn tiến càng ngày càng nặng hơn:
Mục tiêu điều trị chính ở bệnh nhân BMV là giảm triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và phòng ngừa các biến cố tim mạch. Bệnh mạch vành chủ yếu là bệnh lý tim mạch xơ vữa gây hẹp dần lòng động mạch, bệnh diễn biến liên tục dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn động mạch vành hay gọi là nhồi máu cơ tim. Nếu không tuân thủ điều trị, bệnh sẽ tồn tại, các vòng xoáy bệnh lý cứ diễn ra và triệu chứng bệnh ngày càng nặng nề hơn kết thúc là suy bơm tim, rối loạn nhịp tim hay tử vong.
3.2. Bệnh dễ xảy ra các biến chứng hơn:
Khi không tuân thủ điều trị, bệnh mạch vành sẽ dễ dẫn đến các biến chứng hơn là tuân thủ điều trị tốt. Sau tái thông mạch máu, nếu không tuân thủ điều trị rất dễ xảy ra các biến chứng sau tái thông mạch máu như: Tái hẹp hoặc hình thành cục máu đông trong stent sau đặt stent, hay trong mạch máu làm cầu nối sau phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành… 6,8
Biến chứng của bệnh mạch vành mạn tính (mãng xơ vữa ổn định) nếu không tuân thủ điều trị dễ xảy ra hội chứng vành cấp (cơn đau thắt ngực không ổn định hay nhồi máu cơ tim), khi đó mãng xơ vữa không còn ổn định nữa mà bị đứt gãy, vỡ ra tạo điều kiện dễ hình thành cục máu đông (hay bản thân mãng xơ vữa) bong ra gây tắc nghẽn lòng động mạch vành. Nếu không tuân thủ điều trị dễ xảy ra suy tim vì bệnh mạch vành gây giảm lượng máu nuôi cơ tim, gây tổn thương cơ tim, giảm chức năng cơ tim dần dẫn đến suy tim .4
Nếu không tuân thủ điều trị cũng dễ xảy ra các rối loạn nhịp tim vì các biến chứng như trên gây tổn thương các tế bào chịu trách nhiệm về tạo nhịp và dẫn truyền nhịp tim và dễ xảy ra các rối loạn nhịp tim, đặc biệt là các rối loạn nhịp tim nguy hiểm ảnh hưởng đến tính mạng.2
3.3. Tăng chi phí điều trị do tăng tỷ lệ nhập viện:
Nếu không tuân thủ điều trị bệnh mạch vành ổn định dễ xảy ra những diễn biến tất yếu như vậy, hay khi bệnh mạch vành cấp tính nếu không tuân thủ điều trị sẽ dễ xảy ra các biến cố, biến chứng nguy hiểm và dễ tử vong hơn .
Tóm lại, hậu quả việc không tuân thủ điều trị nói chung và bệnh mạch vành nói riêng ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao và ở những bệnh nhân bệnh mạch vành, dẫn đến các kết cục nặng hơn và chi phí chăm sóc y tế cao hơn. Chi phí kinh tế không chỉ bao gồm chi phí thuốc mà còn bao gồm chi phí tăng thêm từ nhu cầu chăm sóc y tế nếu sức khỏe suy giảm, nghỉ việc (đối với người lao động), nằm viện (khi nhập viện) hoặc tử vong.
PGS.TS Nguyễn Tá Đông
Bệnh Viện Trung Ương Huế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Castellano JM, Copeland-Halperin R, Fuster V (2013), “Aiming at strategies for a complex problem of medical nonadherence”, Global Heart, 8 (3), 263-271.
- Ho PM, Bryson CL, Rumsfeld JS (2019), “Medication adherence. It’s importance in cardiovascular outcomes”, Circulation, 119 3028-3035.
- Ho PM, Magid DJ, Shetterly SM, et al (2008), “Medication nonadherence is associated with a broad range of adverse outcomes in patients with coronary artery disease”, Am Heart J, 155 772-779.
- Huber D, Wikén C, Henriksson R, et al (2021), “Statin treatment after acute coronary syndrome: Adherence and reasons for non-adherence in a randomized controlled intervention trial”, Sci Rep, 11 (1), 6454.
- Kripalani S, Yao X, Haynes RB (2007), “Interventions to enhance medication adherence in chronic medical conditions”, Arch Internal Med; , 167 540-550.
- Mathews R, Peterson ED, Honeycutt E, et al (2015), ” Early Medication Nonadherence After Acute Myocardial Infarction”, Circ Cardiovasc Qual Outcomes, 8 347-356.
- Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Văn Lưu, Phạm Thị Thu Hương (2018), “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp động mạch vành qua da tại tỉnh Hải Dương năm 2018”, Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 1 (3), 16-21.
- Sanfélix-Gimeno G, Peiró S, Ferreros I, et al (2013), “Adherence to evidence-based therapies after acute coronary syndrome: A retrospective population-based cohort study linking hospital, outpatient, and pharmacy health information systems in Valencia, Spain”, J Manag Care Pharm, 19 (3), 247-257.
- Võ Thị Dễ (2013). Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân bệnh động mạch vành đã được can thiệp, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
- West D, Lefler L, Franks A (2010), “Examining medication adherence in older women with coronary heart disease”, J Women Aging, 22 (3), 157-170.
SERV-NDT2-12-09-2025



