Biến chứng mắt do đái tháo đường bao gồm biến chứng võng mạc (đáy mắt), phù hoàng điểm, đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp, trong đó 2 loại đầu là nguy hiểm nhất. Đáy mắt có các tế bào cảm thụ ánh sáng, tập trung nhiều nhất ở hoàng điểm nằm ở trung tâm đáy mắt.

Biến chứng võng mạc là do tổn thương các mạch máu nhỏ ở võng mạc. Ban đầu có hiện tượng thoát dịch và xuất huyết nhẹ vào võng mạc, đây là giai đoạn tiền tăng sinh. Nếu thoát dịch vào vị trí hoàng điểm sẽ gây phù hoàng điểm và thị lực bị ảnh hưởng nhiều.
Tiếp theo, các mạch máu nhỏ bị tắc, làm cho đáy mắt bị thiếu máu. Khi đó, để bù lại, nhiều mạch máu nhỏ được sinh ra, đây là giai đoạn biến chứng võng mạc tăng sinh. Nhưng những mạch máu này rất yếu, dễ bị vỡ, dẫn đến xuất huyết nặng vào đáy mắt hoặc dịch kích, làm giảm thị lực rất nhiều. Sau đó các đám xuất huyết tạo thành sẹo, các sẹo có thể co kéo và dẫn đến bong võng mạc, một tổn thường gây giảm thị lực nặng nề hoặc mù hoàn toàn.

Bien chung ve mat cua nguoi benh dai thao duong

Sau đây là những hiểu lầm hay gặp về biến chứng mắt, chủ yếu là biến chứng võng mạc do đái tháo đường.

1.    Tôi mới bị phát hiện mắc ĐTĐ típ 2 nên chưa thể bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường típ 2 thường tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng gì mà người bệnh có thể nhận biết được, nên thường được phát hiện rất muộn, trung bình khoảng 10 năm sau khi bệnh xuất hiện. Do vậy ngay khi đái tháo đường được chẩn đoán, một tỷ lệ không nhỏ, có thể lên đến 1/3 trong số người bệnh đái tháo đường típ 2 đã có các biến chứng võng mạc, cũng như các biến chứng khác do đái tháo đường.

2.    Chỉ có người mắc bệnh đái tháo đường típ 1 mới bị mù lòa bởi biến chứng võng mạc do đái tháo đường ?

Mọi bệnh nhân đái tháo đường, bất kể típ nào cũng có thể bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường ở các mức độ khác nhau, kể cả mù lòa. Tuy nhiên, người mắc đái tháo đường típ 1 thường bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường nhiều hơn những người mắc bệnh đái tháo đường típ 2.

3.    Tôi vẫn nhìn bình thường và không cảm nhận gì bất thường ở mắt tức là tôi không có biến chứng võng mạc do đái tháo đường.

Biến chứng võng mạc ở gian đoạn đầu không có triệu chứng mà người bệnh có thể nhận thấy được. Thậm chí ở một số người bệnh có biến chứng võng mạc tăng sinh – giai đoạn nặng – cũng vẫn nhìn thấy bình thường. Nhưng ở giai đoạn này có thể đột ngột xuất hiện xuất huyết vào võng mạc hoặc dịch kính, làm suy giảm thị lực rất nhiều, thậm chí mù hoàn toàn.

4.    Nếu tôi bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường, luyện tập thể lực sẽ làm biến chứng trở nên nặng hơn.

Luyện tập thể lực tốt cho đa số bệnh nhân đái tháo đường. Chỉ một số ít bệnh nhân bị biến chứng võng mạc tăng sinh  cần tránh các bài luyện tập gắng sức nhiều.

5.    Điều trị biến chứng võng mạc do đái tháo đường bằng laser giúp thị lực tốt hơn.

Điều trị laser được chỉ định khi có biến chứng võng mạc tăng sinh, giúp  ngăn chặn sự tiến triển nặng hơn của biến chứng chứ không cải thiện được thị lực, thậm chí thị lực còn có thể giảm đi chút ít trong một thời gian sau điều trị.

6.    Tôi kiểm soát tốt  đường huyết của mình và tôi không lo bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường.

Kể cả khi người bệnh kiểm soát tốt  đường huyết,  đường huyết của họ vẫn thường cao hơn so với người bình thường không mắc đái tháo đường. Do đó họ vẫn có thể bị biến chứng võng mạc do đái tháo đường, nhưng ít  hơn so với những người có kiểm soát kém  đường huyết. Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác có thể góp phần gây biến chứng này như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá và sự nhạy cảm cá nhân người bệnh với tăng  đường huyết.

7.    Người mắc bệnh đái tháo đường cuối cùng sẽ bị mù do biến chứng mắt.

Nếu kiểm soát tốt đường huyết và các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp và rối loạn mỡ máu và không hút thuốc lá, người bệnh có thể tránh được biến chứng võng mạc do đái tháo đường hoặc ngăn chặn được sự tiến triển của biến chứng này đến mù lòa.