Nguyên nhân của Đái tháo đường Típ 1, Típ 2 và Đái tháo đường thai kỳ là gì?
Bệnh đái tháo đường (thường gọi là bệnh tiểu đường) là một tình trạng rối loạn chuyển hóa phức tạp, đặc trưng bởi lượng đường (glucose) trong máu luôn ở mức cao. Điều này xảy ra do cơ thể bị khiếm khuyết trong việc tiết ra insulin, hoặc insulin hoạt động không hiệu quả, hoặc do cả hai.
Khi tuyến tụy không tiết đủ lượng insulin cần thiết và/hoặc các mô trong cơ thể bị kháng (giảm đáp ứng) với insulin, hoạt động của insulin tại các cơ quan sẽ bị suy giảm. Hậu quả là cơ thể không sử dụng được đường một cách hiệu quả, dẫn đến rối loạn chuyển hóa cả đường, chất béo và chất đạm.[4][5]
Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính[4][5]
| Phân loại ĐTĐ theo nguyên nhân | Cơ chế bệnh sinh |
| ĐTĐ típ 1 (phụ thuộc insulin) | Do khả năng sản xuất insulin của tuyến tụy (tế bào beta) bị phá hủy, dẫn đến thiếu hụt insulin. Típ 1 chia thành 2 loại: do hệ miễn dịch tự tấn công (tự miễn) và không rõ nguyên nhân (vô căn).[2] |
| ĐTĐ típ 2 (không phụ thuộc insulin) | Do tuyến tụy mất dần khả năng tiết insulin, thường xảy ra trên nền cơ thể bị kháng insulin. ĐTĐ típ 2 rất phổ biến, chiếm khoảng 90-95% tổng số ca mắc bệnh.[1] |
| Đái tháo đường thai kỳ | Được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và trước đó người mẹ chưa từng bị bệnh. Tình trạng này liên quan đến cơ chế kháng insulin do sự thay đổi nội tiết tố khi mang thai.[3][5] |
Những điều bạn cần biết về Đái tháo đường típ 1
Đái tháo đường típ 1 xảy ra do các tế bào sản xuất insulin của tuyến tụy bị phá hủy, khiến người bệnh không còn hoặc còn rất ít insulin. Có 95% trường hợp là do hệ miễn dịch tự “nhầm lẫn” và tấn công vào tuyến tụy và 5% là không rõ nguyên nhân. Quá trình gây bệnh là sự kết hợp của yếu tố di truyền, các tác động từ môi trường và hệ thống miễn dịch, dẫn đến hậu quả tuyến tụy bị phá hủy và suy giảm insulin.
Người bệnh bị thiếu hụt insulin trầm trọng, làm tăng một chất gọi là glucagon trong máu, nếu không được điều trị kịp thời sẽ bị nhiễm toan ceton (một biến chứng cấp tính nguy hiểm). Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Người bệnh bắt buộc phải tiêm insulin để ổn định đường huyết. Lúc đầu người bệnh vẫn còn đủ insulin nên không bị nhiễm toan ceton, nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ ngày càng nặng dần theo thời gian[2][4][5]
Trong phần lớn các trường hợp, sự phá huỷ tuyến tụy do hệ miễn dịch xảy ra với tốc độ khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi gen, tuổi tác và sắc tộc. Quá trình này tiến triển liên tục qua 4 giai đoạn trước khi xuất hiện các triệu chứng rõ ràng ra bên ngoài: [2]:
– Giai đoạn 1: Có thể kéo dài hàng tháng đến nhiều năm. Lúc này trong máu bắt đầu xuất hiện các chất kháng lại tế bào tuyến tụy, nhưng chưa có triệu chứng và đường huyết vẫn ở mức bình thường.
– Giai đoạn 2: Bắt đầu có hiện tượng rối loạn dung nạp đường, nhưng cơ thể vẫn chưa có biểu hiện bất thường (giai đoạn tiền triệu chứng).
– Giai đoạn 3: Bệnh bắt đầu khởi phát và có các triệu chứng rõ rệt.
– Giai đoạn 4: Đái tháo đường típ 1 kéo dài
Các yếu tố “châm ngòi” (như nhiễm trùng, dinh dưỡng, béo phì, hoá chất…) liên quan đến sự phá huỷ tuyến tụy phần lớn vẫn chưa được biết rõ, nhưng quá trình phá huỷ này thường bắt đầu âm thầm từ nhiều tháng đến nhiều năm trước khi có triệu chứng.[2]
Những điều bạn cần biết về Đái tháo đường típ 2
Đái tháo đường típ 2 là tình trạng đặc trưng bởi việc cơ thể giảm đáp ứng với insulin, kết hợp với việc tuyến tụy bị rối loạn tiết insulin. Đây là hai yếu tố trung tâm khiến bệnh tiến triển.[1][4]
– Kháng insulin: Là tình trạng các cơ quan như cơ, mỡ và gan bị giảm khả năng nhận diện và sử dụng insulin. Điều này làm giảm việc đưa đường vào cơ, đồng thời gan không ngừng sản xuất thêm đường, khiến đường huyết tăng cao. Tại mô mỡ, tình trạng kháng insulin làm tăng axit béo tự do, kích thích cơ thể tạo thêm đường và mỡ (triglycerid). Hội chứng chuyển hóa (hay hội chứng kháng insulin) bao gồm một tập hợp nhiều rối loạn như: béo bụng, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu (tăng mỡ xấu triglycerid và giảm mỡ tốt HDL), tăng các chất gây viêm, rối loạn đường huyết đói hoặc rối loạn dung nạp đường… làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch do xơ vữa.
Trong giai đoạn đầu, tuyến tụy sẽ cố gắng bù đắp bằng cách tiết ra nhiều insulin hơn. Nhưng nếu tình trạng kháng insulin kéo dài và nặng dần, tuyến tụy sẽ kiệt sức, không tiết đủ insulin nữa và bệnh ĐTĐ típ 2 sẽ xuất hiện rõ. Tình trạng kháng insulin có thể được cải thiện khi giảm cân hoặc dùng thuốc, nhưng sẽ không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường như người khỏe mạnh.
– Rối loạn tiết insulin của tuyến tụy: Ngay tại thời điểm được chẩn đoán mắc ĐTĐ típ 2, khả năng tiết insulin của tuyến tụy thực chất đã giảm mất khoảng 50%. Quá trình rối loạn này đã âm thầm xảy ra nhiều năm trước khi bệnh bộc lộ và sẽ tiếp tục nặng dần theo thời gian.
– Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ típ 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào. Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ típ 2 gồm có[1][4][5]:
- Cha mẹ hay anh chị em ruột mắc bệnh đái tháo đường.
- Có tiền sử mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch.
- Bị tăng huyết áp (huyết áp ≥ 140/90 mmHg hoặc đang uống thuốc hạ áp).
- Rối loạn mỡ máu (cholesterol tốt HDL <35 mg/dL và/hoặc mỡ xấu triglyceride >250mg/dL).
- Có lối sống ít vận động, bị thừa cân hoặc béo phì.
- Có các dấu hiệu trên da liên quan đến tình trạng kháng insulin (như dấu gai đen – xuất hiện các vệt da sẫm màu, dày sừng ở nách, cổ).
- Đang ở giai đoạn tiền đái tháo đường.
- Phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang, hoặc từng bị đái tháo đường thai kỳ.
Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ĐTĐ típ 2. Trên một cơ địa vốn đã dễ mắc bệnh do di truyền, nếu kết hợp thêm yếu tố môi trường (đặc biệt là béo phì vùng bụng – nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến kháng insulin) thì sẽ làm bộc lộ bệnh ĐTĐ típ 2 ra ngoài.[4]
Những điều bạn cần biết về Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK)
Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng rối loạn chuyển hóa khiến lượng đường trong máu tăng cao, được phát hiện lần đầu tiên khi mang thai (từ 3 tháng giữa thai kỳ trở đi) và trước đó người mẹ chưa từng bị bệnh đái tháo đường.[3][5]
Đặc điểm quan trọng nhất của ĐTĐTK là tình trạng kháng insulin, chủ yếu do cơ thể người mẹ và nhau thai sản xuất ra nhiều loại hormone gây cản trở insulin. Tình trạng kháng insulin này tăng rất rõ rệt trong quý 2 và quý 3 của thai kỳ. Ở thai phụ mắc ĐTĐTK, khả năng tiết insulin của tuyến tụy lại bị suy giảm nên không bù đắp được mức độ kháng insulin trong cơ thể. Sự kết hợp của hai yếu tố này dẫn đến việc đường huyết tăng cao, hình thành đái tháo đường thai kỳ.[3][5]
Các yếu tố nguy cơ: Thai phụ sẽ dễ mắc ĐTĐTK hơn nếu có các yếu tố sau [3][5]:
– Thừa cân hay béo phì: Tình trạng này gây kháng insulin và làm rối loạn chuyển hóa đường.
– Tiền sử gia đình: Việc có người thân thế hệ thứ nhất (cha mẹ, anh chị em ruột) mắc bệnh đái tháo đường là một nguy cơ rất cao, chiếm tới 50 – 60% so với nhóm không có tiền sử gia đình.
– Tiền sử sinh con to: Từng sinh con nặng từ 4kg trở lên. Đây vừa là hậu quả của ĐTĐTK, vừa là yếu tố nguy cơ cho người mẹ ở những lần mang thai sau.
– Tiền sử bất thường về dung nạp glucose: Phụ nữ có tiền sử rối loạn dung nạp đường có nguy cơ mắc cao hơn hẳn so với người bình thường.
– Có đường trong nước tiểu (glucose niệu dương tính): Đây là một yếu tố nguy cơ cao. Tuy nhiên, cũng có khoảng 10–15% thai phụ xuất hiện dấu hiệu này nhưng không phải do mắc ĐTĐTK.
– Tuổi mang thai: Phụ nữ lớn hơn 35 tuổi khi mang thai thì nguy cơ ĐTĐTK sẽ tăng cao hơn.
– Tiền sử sản khoa bất thường: Từng bị thai chết lưu không rõ nguyên nhân, sinh con bị dị tật bẩm sinh, tiền sản giật, hoặc sinh non.
– Chủng tộc: Châu Á là chủng tộc có nguy cơ mắc ĐTĐTK cao.
– Các bệnh lý đi kèm: Mắc hội chứng buồng trứng đa nang , tăng huyết áp (≥140/90 mmHg hoặc đang uống thuốc hạ áp) , rối loạn mỡ máu
Thai phụ mắc ĐTĐTK có nguy cơ cao gặp rủi ro như sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, tăng huyết áp trong thai kỳ, đa ối, nhiễm trùng tiết niệu, viêm đài bể thận, hoặc phải sinh mổ. Về lâu dài, các thai phụ này tăng nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ típ 2 thực sự và gặp các biến chứng liên quan, đặc biệt là biến chứng trên các mạch máu nhỏ làm ảnh hưởng đến tim, thận và mắt.[3]
Mỗi loại đái tháo đường đều có những nguyên nhân, cơ chế và yếu tố nguy cơ riêng. Việc hiểu đúng nguyên nhân mang lại rất nhiều lợi ích: giúp làm chậm sự xuất hiện của bệnh ở nhóm người có nguy cơ cao (đặc biệt là típ 2 và thai kỳ) ; giúp người bệnh hợp tác tốt với bác sĩ để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất, kiểm soát bệnh toàn diện ; giúp giảm thiểu biến chứng để bảo vệ tim, thận, mắt… đồng thời giảm rủi ro cho cả mẹ và thai nhi. Đừng đợi đến khi có triệu chứng mới đi khám. Việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, đặc biệt đối với phụ nữ mang thai và người thừa cân, béo phì, là cách hiệu quả nhất để phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe lâu dài.
BS.CKII. Trần Thúy Bình
TTYT Long Xuyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2, Ban hành kèm theo Quyết định số 5481/QĐ-BYT ngày 30/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Bộ Y tế (2024), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường típ 1 ở trẻ em và thanh thiếu niên, Ban hành kèm theo Quyết định số 1760/QĐ-BYT ngày 21/06/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Bộ Y tế (2024), Hướng dẫn quốc gia về sàng lọc và quản lý đái tháo đường thai kỳ, Ban hành kèm theo Quyết định số 1470/QĐ-BYT ngày 29/05/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Trần Quang Nam (2021), “Sinh lý bệnh đái tháo đường”, Nội tiết học cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 78-91.
- American Diabetes Association Professional Practice Committee (2024), “2. Diagnosis and Classification of Diabetes: Standards of Care in Diabetes—2024”, Diabetes Care, 47(Supplement_1), S20–S42.
VN_PA_2027



